aoc benhtieudem.com.vn itsme f-idol.vn https://seotime.edu.vn/duoc-lieu-duoc-co-truyen.f38/ caodangvtc.edu.vn

Cây bạch chỉ
Tên khoa học là:Radix Angelicae dahuricae.
Thuộc họ hoa tán – Apiaceae.

Đặc điểm thực vật:

cây bạch chỉ

Bạch chỉ là loại cây thân thảo, có thân rỗng, mặt ngoài tím hồng, phần dưới của thân nhẵn, đoạn gần cụm hoa có lông ngắn. Cây có thể cao tới 2 m. Lá ở đoạn gốc to, có bẹ ôm vào thân, phiến lá xẻ lông chim, thuỳ hình trứng và mép lá có răng cưa. Cụm hoa tán.

Trồng trọt:

Cây được di thực vào nước ta và trồng ở 1 số tỉnh phía bắc. Cây cơ thể mọc được ở cả vùng đồng bằng cũng như vùng rừng núi.
Lấy hạt của cây 2 năm làm giống và cây giống được để ở nơi có khí hậu mát. Do bạch chỉ ăn rễ sâu nên đất cần được cày sâu bừa kỹ. Làm thành các luống, mỗi hốc cho khoảng 15 hạt, tưới nước cho ẩm đất,; thời gian gieo vào tháng 10 – 11.
Khi cây phát triển, cao khoảng 25 cm, cần tỉa bớt cây, giữ lại mỗi hốc khoảng 3 -4 cây. Làm cỏ, bón phân lúc lá chưa phủ hết mặt luống. Nếu trên lá thấy xuất hiện các đốm đen, hái lá đem đốt hoặc phun dung dịch Bordeaux; có sâu bọ thì dùng thuốc trừ sâu.

Bộ phận dùng:

rễ bạch chỉ

Rễ phơi khô của cây bạch chỉ.

Chế biến:

Đào lấy củ vào những hôm trời khô ráo, chú ý khi đào không nên làm xây xát vỏ hoặc làm gãy củ. Rửa sạch để ráo nước rồi cho vào lò xông sinh diêm 1 ngày đêm, sau đó mới đem phơi hay sấy khô. Tiếp tục xông sinh diêm 1 lần nữa. Dược liệu có phần trên to, dưới nhỏ dần trông giống củ cà rốt.
Yêu cầu dược liệu tốt khi có phần thịt trắng, ít xơ, có mùi thơm và vị đắng.
Nếu dùng rễ bạch chỉ thì rửa sạch, ủ cho mềm rồi thái lát.

Thành phần hoá học:

Các dẫn xuất của coumarin.

Công dụng:

Dịch chiết metanol của rễ bạch chỉ làm ức chế enzym Acetylcholinesterase.
Bạch chỉ được dùng để hạ sốt, giảm đau. Thí nghiệm trên động vật cho thấy: Dùng liều nhỏ gây tăng huyết áp, mạch chậm, hơi thở kéo dài; liều cao gây co giật, tê liệt toàn thân.
Chữa cảm sốt, nhức đầu, đau răng, vết thương sưng tấy, khí hư ở phụ nữ.

Run vô căn là một chứng bệnh không chỉ gặp ở người cao tuổi mà một tỉ lệ không lớn ở người ở tuổi vị thành niên,người ở tuổi trưởng thành thậm chí là cả ở trẻ em.

Run vô căn

Dấu hiệu nhận biết run vô căn?
Trong cuộc sống hàng ngày, nhiều khi chúng ta có gặp phải biểu hiện run, có thể chỉ là một hiện tượng sinh lý bình thường, thoáng qua nên hay bỏ qua, tuy nhiên đó cũng có thể là triệu chứng chỉ điểm của một rối loạn vận động trong cơ thể nên được gọi là run vô căn. Nhưng cũng may mắn vì run vô căn thuộc loại lành tính, ít gây ra các hậu quả nặng nề, chủ yếu người bệnh sẽ thấy rất phiền phức vì chứng run gây ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống hàng ngày.
Hiện nay các nhà khoa học đã tìm ra được một số nguyên nhân dẫn đến chứng run vô căn này, trong đó đáng chú ý nhất là do tinh thần: vui, buồn, căng thẳng trong cuộc sống. Ngoài ra nó còn do tác động của một trường (khoảng 50%)
Chứng run vô căn thường xuất hiện âm thầm, tiến triển chậm, điển hình nhất là run khi chúng ta vận động. Biểu hiện thường là bàn tay bị run khi cử động, có thể cùng lúc với cánh tay, đầu, lưỡi và thanh quản cũng bị ảnh hưởng. Mặc dù nó có thể xảy ra ở bất kỳ bộ phận nào của cơ thể, nhưng nhiều nhất vẫn là ở bàn tay, ngón tay, nhất là khi con người ta cố làm những việc đơn giản nhưng cần sự khéo léo như như rót nước uống, viết chữ, luồn kim, cầm lược chải đầu, trang điểm hoặc cầm đũa để ăn; do đó nó gây cản trở đến cuộc sống hàng ngày rất lớn. Một số người bị run ở đầu, ở cánh tay hoặc ở lưỡi làm cho giọng nói trở nên không chuẩn. Thường gặp bệnh nhân bị run ở cả 2 tay, nhưng có một số trường hợp chỉ bị run 1 tay. Thời tiết khắc nghiệt (quá nóng hay quá lạnh làm các triệu chứng nặng hơn), hoặc khi con người bị mệt mỏi, lo âu, cũng làm cho tần số, biên độ run có thể tăng lên. Thể bệnh hay gặp hơn là ở tuổi từ trung niên đến người cao tuổi, tuy nhiên khá nhiều trường hợp run vô căn xảy ra từ tuổi vị thành niên. Run vô căn thường hết khi ngủ hoặc nghỉ ngơi.
Nên làm gì khi bị run vô căn?

Tác hại cuả run vô căn

Trong nhiều trường hợp, nếu không có bệnh gì nặng hơn đi kèm thì run vô căn ở mức độ nhẹ không cần điều trị. Tuy vậy, cần có sự động viên khích lệ, chăm sóc cả vật chất lẫn tinh thần và làm an tâm người bệnh để bệnh không tăng nặng. Động viên tốt sẽ làm cho người bệnh sẽ tránh được tâm lý tự ti, ngại tiếp xúc và tránh được trầm cảm. Cần thay đổi lối sống, ăn uống đủ lượng, đủ chất, tránh các stress, không nên sử dụng các chất kích thích như thuốc lá, thuốc lào, cà phê, trà đặc hoặc không nên để lạnh quá hoặc nóng quá. Nên lưu ý là chất Caffein có trong cà phê và nước chè có thể kích thích cơ thể sản sinh ra nhiều chất Adrenalin khiến run nặng hơn. Nếu có điều kiện thì trước bữa ăn có thể uống một ly rượu vang đỏ (nhưng lưu ý không được lạm dụng).
Trong trường hợp cần thiết có thể dùng thuốc. Hiện nay rất nhiều người bệnh lo ngại về tác dụng phụ của thuốc Tây có thể quan tâm đến một xu thế mới trong điều trị đó là việc sử dụng các phương thuốc Đông Tây y kết hợp để giúp làm giảm triệu chứng run. Các vị thuốc đầu bảng để điều trị run theo Y học cổ truyền được sử dụng từ ngàn đời như Câu Đằng, Thiên Ma đã được kết hợp trong các bài thuốc có thể là một giải pháp hữu hiệu cho người bệnh.

Cây coca

Tên khoa học là: Erythroxylum coca Lam.

Thuộc họ cà – Solanaceae.

cây coca

Đặc điểm thực vật:

Cây coca thuộc loại cây nhỡ, cao từ 2 -4 m. Lá lọc so le, cuống lá ngắn, 2 lá kèm nhỏ biến đổi thành gai. Phiến lá hình bầu dục,2 bên gân giữa thấy 2 đường cong lồi tương ứng với 2 nếp gấp của lá trong chồi; phiến lá nguyên.

Hoa mọc đơn lẻ hoặc mọc thành xim 3- 4 hoa, hoa nhỏ mọc ở kẽ lá. Hoa lưỡng tính, tràng hoa 5 cánh màu vàng nhạt, 5 lá đài màu xanh.

Quả hạch,hình trứng, lúc chín có màu đỏ, chứa 1 hạt có nội nhũ.

Phân bố:

Cây có nguồn gốc Nam Mỹ, chủ yếu ở Columbia, Peru, Bolivia.

Cây trồng bằng hạt.

Bộ phận dùng:

Lá.

Chế biến:

Lá thu hái về đem phơi hay sấy ở nhiệt độ thấp, đem đóng thành bao. Lá có mùi chè, vị đắng dễ chịu, sau đó thấy tê tê.

Thành phần hoá học:

Các alcaloid được chia thành 2 nhóm:

  • Dẫn xuất của N-metyl pyrrolidin gồm hygrin, cuscohygrin, nicotin: chúng là các base không bay hơi.
  • Dẫn xuất của pseudotropin và acid pseudotropin carbonic gồm cocain, cinnamoyl cocain, benzoylecgonin, tropacocain, anpha- truxillin, beta- truxillin.

Tác dụng, độc tính:

Từ lâu, lá coca đã được thổ dân Nam Mỹ dùng, họ nhai lá coca với vôi thấy mất cảm giác đói, làm tăng hoạt động của các cơ và họ không còn cảm thấy mệt nhọc khi lao động chân tay. Do dó, trước đây người ta coi lá coca là thứ thuốc bổ.

Trên thực tế, các cảm giác trên của con người là do cocain mang lại, nếu dùng kéo dài sẽ gây nghiện và dần con người cảm thấy mệt mỏi, uể oải, thể lực kém dần.

Cocain là chất gây tê niêm mạc, làm liệt các đoạn cuối của dây thần kinh cảm giác, gây co mạch máu nên thích hợp với các phẫu thuật như răng, tai, mũi, họng.

Liều nhỏ cocain gây cảm giác khoan khoái, dễ chịu, phê thuốc. Liều cao cocain gây ảo giác và có thể chết do liệt hô hấp.

Công dụng:

Hiện nay, cocain được xếp vào thuốc gây nghiện.

Dạng dùng làm thuốc là cocain chiết từ lá coca dạng muối, cocain hydroclorid được dùng làm thuốc gây tê tại chỗ như gây tê tai, họng, niêm mạch mũi,…, làm thuốc nhỏ mũi để chữa sổ mũi, uống để chữa đau dạ dày, thực quản.

Do tính chất gây nghiện nên cocain không được dùng cho các bệnh thần kinh, bệnh tim, bệnh xơ cứng động mạch, bệnh đường hô hấp mạn tính; không dùng cho trẻ em dưới 10 tuổi và người già.

↑このページのトップヘ